Showing posts with label truyen dan gian. Show all posts
Showing posts with label truyen dan gian. Show all posts

Saturday, October 20, 2012

Truyện Dân Gian Do Thái: Con ruồi và con nhện


Truyện Dân Gian Do Thái: Con ruồi và con nhện

Truyện dân gian của các dân tộc nói chung là để tiêu khiển hoặc lấy tiêu khiển làm mục đích chính, còn việc cổ vũ cho luân lý đạo đức chỉ là phụ. Mỗi truyện có tự tính của nó, không liên quan tới bối cảnh lịch sử, nghi lễ phụng vụ hoặc giải thích thế giới. Nó hư cấu một cách đơn giản, phù hợp thị hiếu của giới bình dân. Nội dung truyện ứng xử với những vấn đề quen thuộc, đang diễn ra chung quanh người thưởng ngoạn, chỉ thỉnh thoảng mới có truyện đặt các sự việc vào bối cảnh quá khứ đã thuộc về cổ tích, như mẫu hệ, phong tục xa xưa hay những di sản thời cổ nay đã biến thái tuy vẫn còn đôi chút dấu vết trong kế thừa.
Cũng như các dân tộc khác, văn học dân gian Do Thái có một kho tàng phong phú các câu truyện kể cho nhau nghe dưới mái ấm gia đình, trong cuộc gặp mặt thân hữu và giữa chốn hội đường. Một số truyện nói lên các vấn đề của cuộc sống. Một số truyện cho thấy cái nhìn thấu suốt vào động thái của con người. Thậm chí có một số truyện mà khi tiếng cười dứt, còn đọng lại trong tâm tư người nghe điều gì đó để trầm ngâm, vương vấn.
Tuy thế, truyện dân gian Do Thái cũng có ít nhất hai đặc điểm nổi bật.
Thứ nhất, vì người nghe truyện thuộc một dân tộc lấy hai định chuẩn để tự kiểm và đánh giá người khác, đó là biết kính sợ Thượng đế và có từ tâm. Đối với họ, người tốt lành là người ngoan đạo, biết vâng phục Thượng đế. Và vâng phục Thượng đế tức là giữ đúng lề luật do ngài ban xuống, được ghi lại trong kinh Torah cộng thêm những triển khai trong sách Talmud. Thượng đế, kinh Torah và dân Israel là ba thành tố bất phân ly trong cuộc sống của họ, và người Do Thái tin rằng họ tồn tại là nhờ giữ vững niềm tin vào Thượng đế và vào vận mệnh được Thượng đế dành cho dân tộc mình.
Thứ hai, vì dân tộc Do Thái phiêu linh khắp thế giới từ châu Á Phi tới Âu Mỹ nên kho tàng truyện dân gian của họ ghi đậm dấu vết văn hóa tại những nơi bánh xe của dân tộc lăn qua rồi đậu lại hoạc lăn tiếp. Người thưởng ngoạn bắt gặp trong ấy các cốt truyện nguyên si hay đôi chút biến dị của rất nhiều dân tộc khác, nhờ thế dễ thấu cảm bức thông điệp được mỗi truyện chuyển tải.
Ngoài hai đặc điểm kể trên, một số truyện dân gian Do Thái còn vượt ra ngoài hình thức kể chuyện dân dã bình thường cũng như lối cấu trúc mang tính luận lý trong một số tác phẩm văn chương bác học. Nói theo kiểu thời thượng, chúng mang tính hậu hiện đại và tiên phong tuy xuất hiện hàng trăm năm trước đây. Một số nhà phê bình cho rằng nhà văn Franz Kafka (The Metamorphosis [Biến Hình Dạng]) cùng vài nhà văn gốc Do Thái khác đã chịu phần nào ảnh hưởng của chúng. Lối thể hiện hư ảo này cũng khá thông dụng trong một số nhà văn hiện nay tại Việt Nam.
Dưới đây, chúng tôi xin mời các bạn thưởng ngoạn một truyện dân gian Do Thái tiêu biểu cho loại đặc biệt đó. Truyện này nằm trong số 350 truyện được chúng tôi sưu tầm, dịch, chú giải và đối chiếu đông tây, làm thành bộ sách ba tập Kho Tàng Truyện Dân Gian Do Thái đang được in và phát hành tại Việt Nam
Nguyễn Ước
**
Con ruồi và con nhện
Thuở đó, có một nhà vua xông pha suốt mấy cuộc chiến tranh gian khổ và rồi chiến thắng tất cả, bắt được rất nhiều tù nhân nên hằng năm ông tổ chức quốc yến mời hết thảy triều thần tới dự để tán tụng những vinh quang đó. Thời ấy, có một loại tấu hài khiếm nhã mà các vua rất ưa thích và những vở ca vũ nhạc kịch đưa lên sân khấu các dân tộc khác nhau với những tập quán phong tục của họ, thí dụ người Anh, người Thổ Nhĩ Kỳ và kể cả người Do Thái. Lúc đó, nhà vua sẽ yêu cầu mang tới cho ông cuốn sách trong đó ghi lại tục lệ của các dân tộc để ông kiểm tra xem vở ca vũ nhạc kịch đó có chính xác không – và rõ ràng là chính xác vì soạn giả nào cũng đọc cùng một cuốn sách.
Lần nọ, trong khi nghiên cứu cuốn sách đó, nhà vua bỗng thấy có con nhện từ trên bàn đang ra sức bò lên một trang sách mà trong góc trang ấy đậu sẵn một con ruồi. Vậy con nhện muốn gì? Dĩ nhiên nó muốn bắt con ruồi. Thế nhưng ngay lúc ấy, có ngọn gió nhẹ thổi tới, nâng trang sách lên, làm con nhện phải chửng lại. Con nhện quay về điểm khởi hành, kiên nhẫn chờ gió lặng, làm như thể chẳng để ý gì tới con ruồi, và rồi nó lại ra sức bò lên trang giấy lần nữa. Thế nhưng ngọn gió lại thổi tới, nâng trang giấy lên, và thêm lần nữa con nhện lùi lại.
Sự việc cứ xảy ra như thế tới mấy lần nhưng con nhện nhích từng chút một cho tới khi nó đặt được một chân lên trang giấy. Và tới lần kế đó, khi ngọn gió thổi tới nâng trang sách lên, con nhện đã ở hẳn trên trang sách – nhưng lần này trang sách hoàn toàn bị lật qua khiến cho con nhện cùng ở khuất phía bên kia với con ruồi. Và lúc đó, điều gì xảy tới cho con ruồi thì tôi không cần phải kể để làm bận lòng các bạn!
Nhà vua quan sát từ đầu tới cuối diễn tiến ấy và thắc mắc. Có điều gì đó bảo cho ông biết đây không chỉ là một sự cố tình cờ xảy ra mà là một thông điệp nào đó gởi tới cho ông. Ông suy nghĩ và suy nghĩ mãi về ý nghĩa của nó cho tới khi ngủ thiếp trên cuốn sách.
Trong giấc ngủ, nhà vua mộng thấy mình đang cầm một viên kim cương trong tay, khi ông nhìn nó thì thấy có nhiều kẻ từ trong đó bước ra. Ông ném viên kim cương nhưng những kẻ ấy lấy bức chân dung của ông đang treo trên vách xuống và chặt đầu của ông trong bức hình đó. Kế đó, họ túm lấy vương miện đang treo bên trên nó, liệng vào bãi rác.
Mọi sự đó xảy ra trong giấc mộng của nhà vua.
Nhưng chuyện không chỉ chấm dứt ở đó. Những kẻ từ viên kim cương bước ra ấy tìm cách giết ông, nhưng nhà vua đang nằm trên một trang sách của cuốn sách thình lình được nâng lên bởi một ngọn gió nhẹ thổi tới, buộc những kẻ ấy phải lùi lại. Khi trang sách nằm yên, họ quay lại, nhưng thêm lần nữa nó lại được gió nâng lên và thêm lần nữa nó cứu ông. Sự việc cứ xảy ra như thế tới mấy lần. Nhà vua hết lòng khao khát được biết trang sách nào đang bảo vệ ông và trong trang sách đó ghi phong tục tập quán của dân tộc nào. Tuy thế ông sợ hãi quá không dám nhìn nó, và điều tốt nhất ông có thể làm là kinh ngạc thét lên trong giấc ngủ rằng:
– A ha! A ha!
Các quan thượng thư lúc này đang ngồi kế bên nhà vua, muốn đánh thức ông, tuy thế thật phạm thượng khi đánh thức một đức vua nên họ đành phải tạo ra những âm thanh thật lớn nhưng chúng cũng chẳng ảnh hưởng tới nhà vua chút nào.
Trong khi đó, trong giấc mộng của nhà vua, một ngọn núi cao sừng sửng tiến tới gần ông và hỏi ông:
– Ngươi thét lớn cái gì thế? Ta đang ngủ bình yên suốt nhiều thời đại thế mà giờ đây bị ngươi đánh thức!
Nhà vua hỏi:
– Theo ngươi thì ta biết làm sao hơn khi có những kẻ đang mưu sát ta? Mọi sự bảo vệ ta đều ở trong trang sách này.
Ngọn núi trả lời:
– Nếu trang sách này bảo vệ ngươi thì ngươi chẳng việc gì phải lo lắng. Ta cũng có nhiều kẻ thù và trang sách này cũng bảo vệ ta. Nào, hãy để ta cho ngươi thấy.
Lúc đó ngọn núi cho nhà vua thấy hàng ngàn cho tới hàng ngàn kẻ thù của nó, đang đứng chung quanh nó, liên hoan, ăn nhậu, nhảy múa và đàn ca xướng hát. Sở dĩ chúng vui vẻ như thế là vì một toán quân của chúng đã lập kế hoạch leo lên ngọn núi và chúng ăn mừng niềm hy vọng thành công đó. Thế nhưng trang sách bảo vệ nhà vua cũng đang bảo vệ ngọn núi.
Bấy giờ trên đỉnh núi có một tảng đá khắc những phong tục tập quán được ghi trong trang sách bảo vệ cùng dân tộc sở hữu chúng nhưng ngọn núi cao quá nên không ai đọc tới. Và dù ở dưới chân núi ấy một tảng đá khác, trên đó viết rằng bất cứ ai trong miệng có răng đều có thể leo lên ngọn núi, nhưng Thượng đế đã quan phòng khiến cho mọc ở đó một loại cỏ dại làm mọi người không còn răng. Bất cứ ai đi bộ hay phi ngựa qua cỏ đó đều không tránh khỏi bị rụng răng. Và quả thật, có từng đống răng nằm khắp chung quanh ngọn núi, cao thật cao giống như chúng là những quả núi răng.
Kế đó, những kẻ từ trong viên kim cương bước ra hoàn trả bức chân dung của nhà vua vào chỗ cũ trên vách, lau chùi vương miện của ông và treo lại bên trên bức hình ấy.
Khi nhà vua thức dậy, ông ngó trang sách xem nó nói tới dân tộc nào và thấy rằng nó nói tới người Do Thái. Sau khi suy nghĩ sâu xa về vấn đề đó, ông đạt thấu chân lý của nó và quyết định trở thành người Do Thái. Vấn đề còn lại là làm thế nào thuyết phục được kẻ khác cũng thấy chân lý đó và làm cho họ cũng thấy ánh sáng đó? Nhà vua nghĩ rằng tốt nhất là mình nên đi kiếm một nhà thông thái có khả năng giải thật đúng giấc mộng của mình.
Và như thế, mang theo hai người, nhà vua lên đường đi khắp thế giới, cải trang làm người dân bình thường. Ông đi từ thành thị này sang thành thị khác, từ thôn làng này sang thôn làng khác, và nơi nào đặt chân tới, ông cũng hỏi có thể tìm thấy một hiền giả giải được giấc mộng của mình không. Cuối cùng, nghe nói có một nơi đang sống một người như thế, nhà vua liền đi tới gặp người đó. Ông kể cho hiền giả nghe mọi sự về mình – làm thế nào ông là một nhà vua đã chiến thắng nhiều cuộc chiến tranh, và làm thế nào ông có một cuốn sách về phong tục tập quán của các dân tộc, và làm thế nào ông có một giấc mộng về nó, và vân vân – và ông yêu cầu cho biết ý nghĩa của tất cả những cái đó.
Nhà khôn ngoan nói:
– Bản thân tôi không thể thông giải giấc mộng của ngài. Nhưng tới một giờ phút nhất định, vào một ngày nhất định và trong một tháng nhất định, khi tôi pha chế nhiều loại vỏ cây và cây làm thành một cây nhang, kẻ nào ngửi hương khói nó lập tức biết câu trả lời cho các câu hỏi của ngài.
Thấy mình đã bỏ ra một thời gian rất lâu mới tìm được hiền giả, nhà vua nghĩ rằng mình cũng có thể chờ cho tới ngày ấy tháng ấy. Và ông đã làm như thế. Ngay khi vừa mới ngửi mùi nhang đó, ông bắt đầu thấy và hiểu rất nhiều, tới độ ông thậm chí còn biết mình đã ở đâu trước khi được sinh ra, lúc linh hồn mình còn trên Thượng giới. Ông thật sự thấy nó từ thế giới đó xuống thế giới này và nghe những người truyền lệnh loan báo rằng:
– Ai có lời phản đối sự ra đời của linh hồn này thì hãy nói ra ngay hoặc mãi mãi giữ mình yên lặng.
Và lúc đó rõ ràng không có lời phản đối nào cho tới khi có ai đó chạy tới la lên:
– Hỡi Chúa tể Vũ trụ, xin hãy nghe tôi nói! Nếu linh hồn ấy sinh vào thế giới này thì nơi đó tôi sẽ phải làm gì thêm và tại sao lại tạo ra tôi?
Kẻ phát biểu đó là Quỉ vương Samael[1], và hắn được trả lời rằng:
– Linh hồn này phải xuống hạ giới và ngươi sẽ phải sử dụng nó cách nào có lợi nhất.
Nghe vậy, Samael cất chân đi thẳng.
Linh hồn của nhà vua vẫn còn bị dẫn qua nhiều thế giới cho tới khi ra trước Pháp đình Thiên cung để đưa lời Tuyên thệ Giáng lâm. Trong khi đó, vẫn không thấy tung tích của Samael đâu. Một sứ giả được phái đi tìm hắn, và khi trở về, mang theo một đồng đảng của hắn, một lão già lưng còng vì tuổi tác. Lão già nói trong tiếng cười rằng:
– Chúng tôi đã tìm ra cách sử dụng tốt nhất linh hồn này. Bây giờ, linh hồn hắn có thể giáng lâm!
Và như thế, linh hồn của nhà vua được phép giáng xuống trần gian. Và hương nhang ấy cũng làm cho ông thấy mọi thứ khác từng xảy ra cho mình – việc ông được tấn phong làm vua, những trận mạc ông đã xông pha, những ngườI tù ông đã bắt, trong số đó có một giai nhân vớI sức quyến rủ hiếm có mà dù có vẻ như của chính cô nhưng thật ra không phảI, nó chính là của viên kim cương đang treo bên trên cô.
Và câu chuyện này vẫn còn nhiều điều nữa, nhưng phần còn lạI không bao giờ được ghi lại.
(Nguyễn Ước dịch từ bản tiếng Anh, “The Fly and the Spiders,” in trong tập Jewish Folktales, tuyển chọn và kể lại bởi Pinhas Sadeh, dịch từ nguyên bản tiếng Hebrew bởi Hillel Halkin. New York: Doubleday, 1989. Trang 389-392)

Chú thích:
[1]Samael: Quỉ vương hay quỉ sứ (Satan, Samael, Ashmodai, Asmodeus). Tên theo nguyên ngữ Hebrew nghĩa là “chống đối”, dùng để nhân cách hóa, như một kẻ xúi dục người khác làm điều ác. Theo niềm tin của nhiều tôn giáo, nó là một tác nhân dối trá, độc dữ và siêu nhiên, ảnh hưởng lên động thái của con người.
Theo truyền thống Thiên Chúa giáo (gồm Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo), Satan là một bộ mặt nguy hiểm cực độ, thủ lãnh các thần linh độc dữ hoặc các thiên thần sa đọa và bản thân nó cũng là một thiên thần sa ngã. Chúng từng là phẩm (cơ binh) thứ nhất trong 10 cơ binh thiên thần, bị Thượng đế trừng phạt vì đã dám kiêu ngạo, thách thức quyền năng của ngài. Vì thế, ngày nay, các cơ binh thiên thần còn lại được gọi là chín phẩm thiên thần.
Cũng theo Kinh thánh, Satan có đầy đủ quyền phép chẳng kém Thượng đế, ngoại trừ khả năng làm con người tái sinh, được hiểu như khả năng làm điều thiện. Trong văn học tôn giáo, Satan xuất hiện với nhiều lớp hóa trang khác nhau, mang lốt con người hay loài vật, và nhiều danh xưng khác nhau như Beelzebul, Belial, v.v. Cũng theo truyền thống Thiên Chúa giáo, người bị chứng quỉ ám là bị Satan chiếm hữu, khác với ma ám. Tuy thế, vẫn có tín ngưỡng thờ phượng Satan, gọi là Satanism, liên quan tới phép phù thủy, ma thuật, huyền thuật của pháp sư, phù thủy, v.v. Tín ngưỡng này vẫn dai dẳng thịnh hành bất chấp sự chống đối của Thiên Chúa giáo trong suốt chiều dài lịch sử.
-Văn bản truyện này lấy từ cuốn sách bằng tiếng Hebrew The Life of Rabbi Nachman of Bratslav [ Cuộc Đời Của Thầy Cả Nachman Ở Bratslav ] xuất bản ở Lemberg vào đầu thế kỷ 19.

Truyện dân gian do thái: miếng đồng đỏ


Truyện dân gian do thái: miếng đồng đỏ

Tại kinh thành Constantinople có một người Do Thái nghèo sinh sống bằng phế liệu. Suốt ngày dài, hắn lê chân từ nhà này sang nhà khác của người theo đạo Do Thái, đạo Is-lam, đạo Kitô, mua quần áo cũ, bình cũ, nồi niêu soong chão cũ và đủ thứ giẻ rách cùng đồ phế thải. Đêm đến hắn về nhà, phân loại nào theo loại đó rồi bán từng món hoặc đổi lấy bất cứ thứ gì có thể kiếm được. Bằng cách đó hắn cố gắng đắp đổi qua ngày trong cuộc sống đạm bạc nhất. Hắn là người giản dị, không chữ nghĩa, sống chân chất với Thượng đế cũng như với đồng loại.

Ngày nọ, hắn mua một đống đồ phế thải của một người Kitô giáo, và bỏ ra suốt đêm để phân loại. Trong khi làm việc đó, hắn bắt gặp một miếng nhỏ đồng đỏ bọc trong giấy các-tông màu xanh lá cây. Hắn cầm lên, ném nó vào đống kim loại phế thải. Khi sắp sửa quay về với công việc, hắn nghe có giọng nói thì thầm rằng:

- Người Do Thái, người Do Thái, tại sao lại liệng bỏ ta!

Sợ hãi, người ấy nhìn quanh xem giọng nói đó phát từ đâu ra nhưng chẳng thấy gì. Tuy thế ngay khi vừa tiếp tục công việc, hắn lại nghe giọng ấy cất lên lần nữa:

- Người Do Thái, người Do Thái! Tại sao vứt bỏ ta rẻ rúng thế này? Xin hãy thương xót ta!

Thêm lần nữa hắn nhìn khắp chung quanh và thêm lần nữa hắn chẳng thấy gì. Và hắn lại làm tiếp công việc. Tuy vậy giọng ấy nói lần thứ ba và lúc này nghe rất thương tâm:

- Xin anh vui lòng xót thương ta và ta sẽ đền đáp xứng đáng, không bỏ công của anh đâu!

Chỉ tới lúc đó người ấy mới để ý rằng giọng nói đó phát ra từ đống kim loại phế liệu - rồi bước tới gần hơn, hắn thấy cái nói thành tiếng là miếng đồng đỏ.

Nó nói với hắn:

- Hãy lượm ta lên và đặt ta lên trên bàn.

Và khi người mua bán đồng nát làm như thế, miếng đồng đỏ nói tiếp:

- Bây giờ, hãy đặt ta nằm trên mặt cái hộp đằng kia rồi ta sẽ cho anh thấy hôm nay anh kiếm được khá hơn - đúng ra là gấp đôi con số kiếm được thường ngày. Anh cứ thử ta rồi sẽ thấy!

Có điều gì đó khiến người nghèo mua bán phế liệu nghe theo miếng đồng đỏ. Hắn đặt nó lên trên mặt cái hộp nằm trên bàn, và ô kìa lạ chưa, hôm đó lợi nhuận hắn kiếm được tăng lên gấp đôi. Hôm sau, nó nói với hắn:

- Xin làm ơn đem ta đi lau chùi sạch sẽ; ta hứa là anh sẽ kiếm được gấp đôi hôm qua.

Hắn cầm miếng đồng đỏ lên, chùi rửa sạch sẽ rồi để lại chỗ cũ - và thật lạ lùng, lợi nhuận của hắn lại tăng lên gấp hai lần! Vài ngày sau, nó nói với hắn:

- Nếu anh thực hiện điều ta đòi hỏi lần này là làm cho ta một cái tủ nhỏ đặc biệt, anh sẽ kiếm được vô hạn.

Như thế người ấy làm một cái tủ nhỏ đặc biệt, và mọi sự xảy ra đúng như miếng đồng đỏ đã hứa; rồi hết lần này tới lần nọ, miếng đồng đỏ lại yêu cầu hắn làm một cái gì đó khác nữa. Tới cuối cùng là hắn cất lên cho nó một ngôi nhà riêng trong đó hắn thắp một ngọn nến và giữ cho cháy suốt ngày suốt đêm trước cái tủ nhỏ trong đó đặt miếng đồng đỏ.

Trong khi đó, người ấy càng ngày càng rất giàu có. Hắn xây cho mình một tòa nhà thật lớn và cũng rất hào phóng hiến tặng tiền của để làm việc từ thiện. Quả thật, đối với đồng bào Do Thái sống trong thị trấn, tất cả những điều ấy quá kỳ diệu tới độ họ thấy nơi hắn sự thể hiện đầy đủ câu thơ trong Thánh vịnh: “Ngài nâng người nghèo lên từ bụi đất”. Và càng giàu hắn càng thể hiện nhiều hành vi tốt lành: thành lập một trường dành cho việc học sách Tô-ra ngay trong ngôi nhà của hắn cùng chịu mọi phí tổn cho các học giả ở luôn tại đó; hắn đóng góp nhiều tiền cho hội đường tới độ làm hổ thẹn những người Do Thái giàu có khác, và chẳng bao lâu sau, hắn trở thành nhân vật danh giá nhất thị trấn.

Ngày nọ, thầy cả Giơ-sa-gia-hu Pin-tô (Yeshayahu Pinto) viếng thăm Constantinople; ông có lệ đi lần lượt các trung tâm Do Thái để lùng tìm các dấu hiệu dị giáo và đánh bật gốc các trò tinh quái của nó. Nghe nói tới sự giàu có đầy bí nhiệm của kẻ mà ngôi nhà hắn trở thành nơi các học giả tụ họp, ông đích thân tới đó và thấy rằng người đồng bào ấy ăn nói chẳng có vẻ học thức chút nào. Ông yêu cầu những người Do Thái đang cùng ngồi ăn tối với mình kể cho nghe câu chuyện của hắn. Họ nói:

- Ồ, hắn chỉ là một kẻ mua bán đồng nát nghèo khó bỗng dưng được thừa hưởng tiền bạc.

Lời nói ấy làm thầy cả Giơ-sa-da-hu cảm thấy không yên tâm. Ông quyết định xem kỹ hơn một chút nguồn gốc sự giàu có của kẻ mua bán phế liệu ấy. Gọi hắn tới phòng riêng, ông nói với hắn:

- Ta rất vui mừng khi thấy mọi việc tốt lành anh đã và đang làm - anh có thể tự xem mình là người rất may mắn! Tuy thế, có một điều ta muốn hỏi anh. Xin anh vui lòng nói cho ta biết toàn bộ tài sản này từ đâu mà trở thành của anh? Và anh hãy đoan chắc là kể cho ta nghe đúng sự thật, vì nếu anh tìm lời ngụy trang cho qua chuyện, ta sẽ có cách riêng của mình để tìm cho ra.

Mục đích của thầy cả là làm cho người mua bán phế liệu run sợ, và ông đã rất thành công tới độ hắn kể hết cho ông nghe mọi sự, từ đầu tới cuối, không bỏ sót một chi tiết nào. Khi hắn kể xong, thầy cả yêu cầu:

- Anh có tự xem mình là một người Do Thái tin vào Thượng đế của Is-ra-el với một đức tin trọn lành không?

Người ấy nói:

- Tôi là một người Do Thái giống như bất cứ người Do Thái nào khác. Tôi tin vào Thượng đế và vào sách Tô-ra của Ngài.

Thầy cả nói:

- Thế thì hãy nói cho ta biết nếu anh được hiến cho sự giàu có để thờ phượng ngẫu tượng, anh có chấp nhận không?

Người ấy kêu lên:

- Lạy trời đừng xảy ra chuyện đó! Nếu vì thế mà được hiến cho toàn bộ tiền bạc trên thế giới tôi sẽ nhổ nước bọt vào.

Thầy cả nói:

- Thế thì hãy cho ta thấy miếng đồng đỏ của anh.

Người mua bán phế liệu dẫn thầy cả tới ngôi nhà hắn đã cất lên, mở cửa cái tủ nhỏ đặc biệt ra, và chỉ cho ông thấy vật đặt bên trong.Vừa thấy vật đó, thầy cả liền chụp lấy, ném nó xuống sàn nhà và yêu cầu đưa cho mình cái búa. Ông bắt đầu dùng búa đập tan tành nó. Mảnh đồng đỏ kêu lên thảm thiết nhưng thầy cả không thèm để ý. Ông đập và đập mãi cho tới khi nó vỡ thành từng mảnh vụn rất nhỏ. Rồi ông đem đốt cháy chúng và rải tro của chúng ra ngoài biển.

Khi làm xong tất cả các việc đó, thầy cả quay sang người mua bán phế liệu và nói:

- Người anh em ạ, anh có thể tận mắt chứng kiến rằng hết thảy hành vi tốt lành của anh đều làm bằng đồng tiền kiếm được từ việc thờ phương ngẫu tượng, một việc mà chúng ta không được phép dùng dù với bất cứ mục đích nào. Do bởi các dự tính của anh đều tốt lành, Thiên Chúa sẽ không trừng phạt anh vì những gì đã xảy ra. Tuy thế, giờ đây vì anh đã biết Lề luật nên anh được lệnh phải thiêu hủy toàn bộ tài sản của anh. Đấng Thượng đế đã giúp đỡ anh khi anh nghèo khó cũng chính là đấng Thượng đế sẽ đến để giúp đỡ anh thêm lần nữa, bằng những phương thế hợp lề luật, vì Ngài là đấng không tạo ra khủng hoảng.

Lập tức người mua bán phế liệu đi đốt ngôi nhà ấy cùng toàn bộ tài sản của hắn. Thậm chí hắn còn ném hết quần áo vào lửa và quay lại cuộc sống thấp kém từng có trước đây. Và khi các đồng bào Do Thái của hắn thấy cách hắn tự nguyện hủy diệt toàn bộ tài sản để rửa sạch sự thờ phượng ngẫu tượng của mình, họ lại càng hoàn toàn tôn quí hắn. Họ tiếp tay nhau nâng đỡ hắn hết sức có thể được cho tới khi Thượng đế đến giúp đỡ hắn. Và sau đó hắn sống thoải mái suốt những ngày đời còn lại.

Ghi chú:

Văn bản truyện này lấy từ một tác phẩm xuất bản vào cuối thế kỷ 19, tại Baghdad, Iraq.

Tác giả: Nguyễn Ước

Truyện dân gian do thái: vua 1 năm


Truyện dân gian do thái: vua 1 năm

Thuở đó từng sống một người nhà giàu và quảng đại. Ông có một người nô lệ rất trung thành. Bù lại, ông hết lòng yêu thương hắn tới độ suy tính rằng:

- Tại sao ta không làm cho cuộc đời của hắn chẳng còn khổ sở như những kẻ nô lệ khác.

Và như thế, ông trả tự do cho hắn, cấp cho hắn một số hàng hóa để đem ra bán nơi hải ngoại, thuê cho hắn một con tàu và nói:

- Chúc anh đi bình an, và Thượng đế ở cùng anh!

Người nô lệ cúi rạp mình trước ông chủ rồi lên tàu giong buồm ra đi.

Trong khi hắn đang lênh đênh trên biển, gió phương bắc nổi lên thành một cơn bão, thổi con tàu ra khỏi hải trình, văng vào bờ biển lởm chởm, va trúng ghềnh đá vỡ tan từng mảnh. Đoàn thủy thủ mất mạng dưới lòng đại dương chỉ còn lại một mình người nô lệ. Nhờ ân sủng của Thượng đế, hắn bám được một tấm ván cho tới khi bị sóng đánh dạt vào bờ của một hòn đảo vắng vẻ. Hàng hóa chìm hết dưới đáy biển còn hắn nằm trơ trọi trên bờ cát suốt mấy ngày cho tới lúc thân thể tả tơi bầm dập dần dần hồi phục.

Sau khi lấy lại sức lực, người nô lệ nhận ra mình đang ở trong hoàn cảnh khốn khó và tuyệt vọng. Tìm cách cứu lấy mình, hắn cất chân bước và đi cho tới khi gặp một đường mòn, và hắn hết sức vui mừng vì thấy ở đó có dấu chân người. Hắn đi theo dấu chân ấy suốt một ngày một đêm rồi thấy xa xa có bóng dáng một thành phố.

Trong khi tới gần nơi đó, hắn ngạc nhiên thấy mọi cư dân trong thành đua nhau chạy ra chào mừng hắn. Những kẻ cai quản thành phố lớn tiếng kêu gọi hào đám dân chúng đông đảo đang tụ tập:

- Nghe đây, nghe đây! Nhìn kìa, nhìn kìa! Hãy nhìn đức vua của các ngươi, kẻ vừa được Thượng đế gởi tới cho các ngươi!

Mọi người hân hoan hồ hởi tung hô:

- Van tuế đức vua! Vạn tuế đức vua!

Kế đó, người nô lệ được mang tới một lâu đài tráng lệ, mặc vào người áo bào màu tía, đội lên đầu vương miện hoàng kim và đặt lên ngồi trên ngai vàng. Vừa ngơ ngác ngồi xuống, hắn thấy các thủ lãnh của dân chúng tiến lên gần mình, hết người này tới người khác, lần lượt thề trung thành với hắn như kẻ nô lệ trung thành với chủ nhân.

Nhìn thấy vinh dự vô cùng to tát dành cho mình, nhà vua mới ấy đưa tay lên dụi cả hai mắt và nghĩ trong bụng:

- Chắc chắn mình đang ngủ và mọi sự này chỉ là một giấc mộng.

Thế nhưng nhiều ngày rồi nhiều tuần lễ trôi qua, thấy mình vẫn là đức vua của vùng đất này nên hắn hiểu rằng đây chắc chắn là thật. Hắn thắc mắc:

- Nhưng mà ta đã làm gì xứng đáng với chức danh này? Đây chắc chắn là một loại thử thách nào đó!

Nghĩ thế, nhà vua, vì dù sao hắn cũng đang là một vị vua, cho gọi một quan thượng thư tới và nói:

- Xin vui lòng nói cho tôi biết cái gì nơi tôi khiến cho ông cùng hết thảy cư dân trên đảo này phong tôi lên làm vua của các người? Và tôi còn trị vì như thế này trong bao lâu nữa?

Quan thượng thư trả lời:

"Tâu Hoàng thượng, tôi thấy mình cũng không có gì phải e ngại khi thưa với ngài rằng vị Thần Chủ quản đất này đã cầu khẩn Thượng đế ban cho chúng tôi mỗi năm một đức vua mới; Thượng đế đã nghe lời cầu nguyện ấy nên cứ mỗi mười hai tháng lại gởi tới cho chúng tôi một người như ngài. Khi kẻ ấy tới, mọi người từ quan tới dân đua chạy ra nghênh đón, như ngài đã thấy, và y được tiếp rước với nghi vệ vương giả, tấn phong làm vua. Tuy thế, nhà vua đó chỉ trị vì một năm thôi. Tới hết năm, y bị truất phế khỏi ngai vàng, bị tước hết trang phục quân vương, bị ăn mặc rách rưới rồi trao cho quân đội. Binh lính sẽ mang y ra bờ biển đưa lên một con thuyền rồi chở y tới một hòn đảo hoang.

"Và như thế, cũng chính con người đó mới hôm trước là một đức vua oai nghiêm, hôm sau không tìm thấy một người bạn nào, dù ở đẳng cấp thấp nhất, để có mặt bên cạnh y trong giờ y cần tới! Y bị sa xuống một cuộc sống đau khổ và khốn cùng, không còn ai quan tâm tới y, vì cũng chính đám dân chúng môt năm trước đây hồ hởi tấn phong y giờ đây đua nhau chạy đi tấn phong một đức vua mới, kẻ cũng được Thượng đế hằng năm gởi tới cho họ.

"Tâu Hoàng thượng, đó là tục lệ của vùng đất chúng tôi; nó bắt đầu có từ lúc không ai nhớ nổi và không cách gì có thể thay đổi nó."

Nghe như vậy, nhà vua hỏi:

- Mấy lời vừa rồi cho thấy ông là một người tốt bụng. Vậy xin hãy nói cho tôi biết những kẻ làm vua trước tôi, trong khi vẫn còn ngồi trên ngai vàng này, có biết kết cuộc của họ sẽ ra sao không?

Quan thượng thư nói:

- Ai cũng biết kết cuộc như thế nhưng tình trạng thoải mái nhất thời khiến cho họ mù lòa trước tương lai nên chẳng chút suy nghĩ tới việc đó.

Nhà vua trầm ngâm với tâm trạng hoàn toàn cảnh giác:

- Trong trường hợp này tôi không thể bỏ phí thời gian. Trong khi còn có thể làm một cái gì đó, tôi phải làm hết sức mình.

Và như thế, nhà vua nói thật lòng với quan thượng thư:

- Vì ông đã tiết lộ mọi sự với tôi, cho nên ông chính là người tôi nên hỏi phải làm thế nào để tự cứu mình khỏi số phận cay đắng ấy?

Quan thượng thư nói:

- Tâu Hoàng thượng, xin ngài hãy ghi khắc trong tâm trí rằng ngài đã tới đất này với hai bàn tay không và rằng ngài phải ra đi với hai bàn tay không, không bao giờ trở lại. Tuy vậy, có cách duy nhất để tránh khỏi số phận đó là hãy lập tức sai những người đáng tin tới hoang đảo mà ngài sẽ bị trục xuất ra đó, để họ dựng lên các nhà kho chứa thực phẩm và bất cứ đồ dự trữ nào ngài sẽ cần tới. Xin nhớ cho rằng ngài sẽ chẳng tìm thấy thứ gì ngoài những thứ đã được chính ngài trang bị cho mình trước đó.

Nhà vua chấp nhận lời khuyên ấy và phái người ra hoang đảo. Ở đó họ xây nhà cửa, trang trí nội thất, đào đất trồng cây và biến chốn hoang vu cô tịch ấy thành một nơi cư trú sầm uất. Quả thật, khi tới gần thời điểm rời ngai vàng, nhà vua nói với quan thượng thư:

- Ta mong ước biết bao được thấy ngày không làm vua nữa để ra hòn đảo trục xuất mà ta đã kiến thiết!

Cuối cùng, hết thời hạn một năm: nhà vua bị truất phế khỏi ngai vàng, tước hết trang phục quân vương, quấn vào mình giẻ rách và cho lên thuyền ra hoang đảo. Thế nhưng dù không còn là một đức vua, kẻ từng làm nô lệ cũng như từng làm vua ấy tới nơi đó với tâm trạng của một người mãn nguyện và kể từ đó, hắn sống sung sướng.

Câu truyện này được kể bởi Thầy cả chính trực Nachman ở Horodenka*, ông nội của Thầy cả vĩ đại Nachman* ở Bratslav*.


Ghi chú:

* Horodenka. Tên một thành phố tọa lạc tại Ivano-Frankivsk Oblast ở miền tậy Ukraine.

* Nachman ở Bratslav (1772-1810). Ông là một đại thầy cả, chắt của tôn sư Baal Shem Tov (1698-1760), người sáng lập phái Hasid Do Thái giáo ở Đông Âu. Nachman cũng là một trong những người thành lập nền móng của phái Hasid ở Bratslav, ông truyền sức sống mới vào phong trào Hasid bằng việc phối hợp giữa bí pháp Do Thái giáo (Kabbalah) và chiều sâu của nền bác học Torah.

*Bratsav. Tức là thành phố Breslov ở Ukraine, tọa lạc bên bờ sông Bug. Từ thế kỷ 18 về trước, nó rất quan trọng ở châu Âu. Nay chỉ còn là một thị trấn nhỏ với khoảng 6.000 dân.

* Văn bản của truyện này lấy từ một tác phẩm được xuất bản tại Warsaw, Ba Lan vào đầu thế kỷ 20. Có các truyện tương tự trong nhiều cộng đồng Do Thái và không Do Thái.

Dù đây có lẽ chỉ là một truyện ngụ ngôn giản dị về chuyến đi của linh hồn qua thế giới này, nhưng ta cũng có thể nhận ra nguồn gốc xa xưa của nó trong huyền thoại và thực hành thời cổ đại. Thuở đó tại Hi Lạp và những phần đất khác của thế giới, từng có chung tục lệ là phong một kẻ lên làm một vị vua cực kỳ tôn kính nhưng với nhiệm kỳ một năm; tới hết thời hạn đó, hắn hoặc người đại diện cho hắn bị xử tử. Bên cạnh ý nghĩa tâm linh, câu truyện này có thể cũng hàm ý truyền đạt một thông điệp chính trị nào đó.

Nguồn: Trích từ Kho tàng truyện dân gian Do Thái, sắp xuất bản.

Tác giả: Nguyễn Ước

Truyện dân gian do thái: Nụ hôn của quỷ


Truyện dân gian do thái: Nụ hôn của quỷ

Thuở đó có một người nghèo chẳng giúp đỡ được gì cho con cái. Suốt ngày dài, y ngồi học sách Tô-ra* (Torah) trong hội đường*, và từ trước tới nay trong cuộc đời mình, y chưa bao giờ đặt chân ra khỏi thành phố nơi y sinh sống. Ngày nọ, bà vợ của y nói với chồng:

- Ông còn ăn không ngồi rồi cho tới bao lâu nữa? Tại sao ông không đi tìm một công việc nào đó mà làm, gần hay xa cũng được, miễn sao cứu cho chúng ta khỏi chết đói.

Người Do Thái ấy trả lời:

- Tôi biết làm gì bây giờ? Từ trước tới nay, tôi chưa hề đi quá cổng thành. Tôi sẽ lạc mất ở chặng đường đầu tiên. Thà là chết ở trong nhà còn hơn chết ở ngoài đồng!

Vợ của y nói:

- Ông đừng lo. Một khi đã ra khỏi cổng thành, ông chỉ việc hỏi bất cứ người nào ông gặp trên đường về phương hướng mà thôi.

Ngày nào bà vợ cũng nói hoài nói mãi chuyện đó cho tới khi người chồng hết chịu nổi. Y cầm lên cây gậy, ứa nước mắt nói lời từ biệt gia đình và lên đường, bước chân ra khỏi cổng thành.

Khi đi dọc đường vạn dặm, y gặp một kẻ dung mạo xấu xí, da ngăm ngăm đen. Người chồng và là Do Thái ngoan đạo ấy cất tiếng:

- Thưa ông, chúc ông một ngày tốt lành.

Kẻ da ngăm ngăm đen ấy trả lời:

- Còn ông, thưa ông, ông đang đi đâu vậy?

Người Do Thái ngoan đạo kể tên một thành phố nào đó. Kẻ da ngăm ngăm đen nói:

- Ông hãy đi với tôi; tôi sẽ chỉ đường cho ông.

Và như thế cả hai cùng đi bên nhau cho tới khi đến một nơi đổ nát, hoang tàn và cổ lổ. Đi qua khỏi nơi đó, cả hai vào một thành phố rộng lớn; ở đó, người Do Thái ngoan đạo nghe từ khắp mọi góc thành phố vang lên giọng đọc sách Tô-ra. Trấn tĩnh lại, y gõ lên cửa một ngôi nhà. Cửa mở và y được nghênh đón vào bên trong, tiếp đãi ăn uống như một ông hoàng và đối xử cực kỳ vinh dự.

Người Do Thái ngoan đạo ở lại đó cho tới đêm Thứ bảy* y cùng đi với gia đình tới hội đường. Người trưởng ca đoàn bắt đầu giờ phụng vụ buổi tối, và mọi kẻ trong cộng đoàn cùng cầu nguyện với y. Nhưng khi tới phần nghi thức kết thúc và y bắt đầu đọc lên lớn tiếng những lời rằng: “Cầu cho niềm hoan lạc của Thiên Chúa, Thượng đế của chúng ta, tràn đầy trên chúng ta”, thì mọi kẻ có mặt tại đó đều bỏ đi, để lại y trơ trọi một mình. Sự cố đó làm y ngạc nhiên tột độ vì toàn thể cộng đoàn ấy biến mất trong làn không khí mỏng manh, không để lại một dấu vết. Và trong khi ngồi ở đó suy nghĩ ủ ê, người Do Thái ngoan đạo chợt nhân ra rằng bọn chúng đều là quỉ sứ.

Ba giờ đồng hồ sau, chúng quay lại hội đường. Chúng hỏi:

- Ngươi làm như vậy nghĩa là gì? Có phải đó là cách ngươi báo đáp lòng tử tế của chúng ta? Tại sao như thế? Ngươi đã khiến cho chúng ta phải bỏ chạy xa tới bốn trăm ngàn lý!

Y nói:

- Xin đừng nổi giận với tôi. Tôi đã không nhận ra các ngươi là ai. Tôi van xin các ngươi tha thứ cho tôi.

Lũ quỉ nói:

- Chúng ta sẽ tha thứ cho ngươi với điều kiện ngươi đừng làm điều đó nữa.

Người ấy nói:

- Nếu phải như vậy thì xin vui lòng đối xử tử tế với tôi bằng cách dẫn tôi về nhà với gia đình mình vì nơi này không phải là chỗ dành cho tôi.

Lũ quỉ nói:

- Dứt khoát là không. Ngươi sẽ ở lại đây với chúng ta, lấy một kẻ trong chúng ta làm vợ, sinh con đẻ cái rồi cùng chúng ta nuôi dưỡng chúng tại nơi này. Chúng ta cũng sẽ chu cấp cho ngươi nhiều của cải và bất cứ thứ gì khác mà tâm hồn ngươi ao ước. Ở đây, ngươi sẽ chẳng thiếu một thứ gì.

Người Do Thái năn nỉ:

- Đừng khiến cho tôi phải làm như thế. Xin các ngươi vui lòng để cho tôi ra đi vì tôi có vợ có con ở nhà.

- Tại sao chúng ta phải màng tới chuyện đó?

Lũ quỉ hỏi ngược lại như thế, và chúng buộc người Do Thái ấy phải lấy một con quỉ cái làm vợ, làm hôn lễ với nó, ngủ với nó và có nhiều con trai con gái với nó.

Ngày nọ, người ấy nói với con quỉ vợ mình rằng:

- Anh van xin em hãy để cho anh về nhà gặp lại vợ con của anh.

Quỉ cái trả lời:

- Nếu anh hứa sẽ quay lại với em ngay, đừng ở lại đó dù chỉ một đêm, thì em sẽ đồng ý cho anh đi và còn cho anh một số tiền rất lớn, mang về cho họ để họ không cần phải lo âu tằn tiện nữa. Em cũng sẽ cấp cho anh một con ngựa đặc biệt; nó chỉ mất có nửa ngày là chở anh tới nơi đó. Nhưng chỉ với một điều kiện là anh đừng làm em thất vọng.

Người Do Thái trả lời:

- Em muốn nói sao cũng được, miễn là làm cho anh tới đó và anh sẽ theo đúng bất cứ điều kiện nào em đòi hỏi.

Như thế, y đưa lời hứa với con quỉ cái. Nó mang tới cho y một con ngựa, đằng sau yên có hai cái túi chứa đầy vàng bạc và đủ loại đá quí. Y leo lên ngựa ra đi, và chỉ chốc lát sau, thấy mình đứng trước ngôi nhà của mình.

Khi thấy y, vợ con của y liền chạy lại ôm hôn thắm thiết. Lũ con vừa chảy nước mắt vui mừng vừa nói:

- Cha ơi cha, chúng con cám ơn cha đã về nhà. Bấy lâu nay cha ở chỗ nào vậy?

Người ấy không kể cho các con nghe nơi mình đã ở mà chỉ cho chúng tiền bạc và những gì còn lại trong tất cả mọi thứ y mang về. Sau đó, y nằm xuống bên cạnh vợ suốt đêm. Tuy thế, y ăn năn hối hận ghê gớm và khóc lóc đầm đìa nước mắt tới độ không thể nào chợp mắt được một chút. Vợ của y hỏi:

- Chồng của tôi ơi, ông khóc lóc chuyện gì vậy? Tại sao ông lại sầu khổ đến thế? Sau một thời gian dài dằng dặc xa nhà mới về lại với vợ con mà ông chẳng làm gì cả, chỉ có khóc lóc thôi, thế thì ông là loại đàn ông nào vậy?

Người đàn ông không trả lời. Khi người vợ thấy chồng đang giấu diếm chuyện gì đó với mình, bà nói:

- Nếu ông không kể cho tôi nghe đó là chuyện gì, tôi sẽ tự sát cho mà xem!

Nói xong, bà liền lấy sợi dây thắt lưng cột quanh cổ mình và bắt đầu siết chặt cho nghẹt thở. Thấy vậy, người chồng vội vàng chạy tới và thét lên với vợ:

- Bà ơi, hãy tới đây nằm với tôi, và tôi sẽ kể hết cho bà nghe mọi sự đã xảy ra.

Như thế người đàn bà bỏ sợi dây thắt lưng xuống, tới nằm với y. Và y kể cho bà nghe hết tất cả những gì đã xảy ra. Bà nói:

- Chồng của tôi ơi, xin hãy lắng nghe tôi. Ông hãy tới hội đường rồi ở lại trong đó học sách Tô-ra suốt ngày suốt đêm, và ông sẽ được bảo vệ chống lại mọi sự làm hại mình.

Y trả lời:

- Ý tưởng ấy của bà thật hay ho; tôi sẽ làm theo lời bà.

Tới sáng hôm sau, người Do Thái thức dậy rất sớm. Y đi tới hội đường và ngồi ở đó học sách Tô-ra suốt mấy ngày liền.

Khi con quỉ cái thấy chồng mình không trở về, nó sai một con quỉ khác giả dạng làm một thanh niên tuấn tú. Gã thanh niên này tới gần người Do Thái ấy trong hội đường và nói:

- Anh tới đây, tôi có việc muốn nói riêng với anh.

Người ngoan đạo ấy trả lời:

- Ngươi có thể nói cho ta biết ngươi muốn cái gì nhưng ta sẽ tiếp tục việc học ngay.

Khi con quỉ thấy người ấy không ngưng việc học dù chỉ một giây, nó liền bỏ đi không nói một tiếng và quay về gặp con quỉ cái, kể cho nó nghe chuyện đó. Lúc ấy, con quỉ cái đích thân đi. Nó giả dạng làm một phụ nữ xinh đẹp tới gặp thầy giảng* của hội đường ấy và nói với ông rằng:

- Thưa thầy, xin hãy lắng nghe tôi. Tôi muốn đưa đơn khiếu kiện một người đàn ông đang ở trong hội đường.

Nghe vậy, người Do Thái ngoan đạo nói:

- Ngươi chẳng có điều gì để khiếu nại cả.

Con quỉ nói:

- Nhưng em là vợ của anh. Anh đã cưới em đúng theo lề luật, có làm hôn lễ trước bàn thờ, và em đã có con cái với anh. Trước khi rời em lên đường, anh đã hứa với em sẽ quay về ngay hôm sau, và em còn cho anh cả vàng lẫn bạc. Anh đã không giữ lời hứa - và như thế em tới đây để đòi hỏi anh phải hoàn thành các nhiệm vụ của mình đúng với lề luật Do Thái.

Người ấy nói:

- Nhưng ngươi không phải là đàn bà Do Thái mà là một con quỉ. Ngươi chẳng có chút quyền nào ở đây. Hỡi Xa-tan*, hãy đi cho khuất mắt ta!

Khi thấy mình không cách gì có thể thuyết phục hay hăm dọa hay năn nỉ ỉ ôi nữa, con quỉ cái nói với y:

- Thế thì em có một đòi hỏi sau cùng đối với anh, và anh chỉ có việc chấp nhận nó để vứt bỏ em. Nó là điều cuối cùng mà em yêu cầu anh, một lần rồi thôi.

Người ấy nói:

- Cứ việc yêu cầu và ngươi sẽ có nó.

Nó nói:

- Hãy hôn em một cái, và em sẽ chẳng bao giờ làm phiền anh nữa.

Như thế, người Do Thái ngoan đạo bước tới bên con quỉ và hôn nó. Và với cái hôn ấy, con quỉ hút lấy linh hồn của y ra khỏi người y, và rồi nó biến mất mãi mãi.

Chú thích:

* Torah. Trong tiếng Híp-ri, Torah có nghĩa là những lời giảng dạy hay học hỏi. Torah gồm năm cuốn sách được qui cho Mô-sê, gọi là Luật Mô-sê hay năm cuốn sách đầu của Kinh thánh (Ngũ kinh), gồm sách Sáng thế, sách Xuất hành, sách Lê-vi, sách Dân số và sách Đệ nhị luật. Người Do Thái giáo chính thống tin rằng nội dung sách Torah được Thượng đế truyền trực tiếp cho Mô-sê trên núi Xi-nai, và liền đó ông chuyển giao cho dân Is-ra-el. Sách Torah được dùng làm căn bản các lề luật về đạo đức và hướng dẫn thể lý. Nó bắt đầu với sự mô tả nguồn gốc của vũ trụ và kết thúc với chữ Is-ra-en, ngay sau câu chuyện cái chết của Mô-sê và trước cuộc xâm chiếm của người Is-ra-en vào đất Ca-na-an. Theo ý nghĩa rộng lớn hơn, sách Torah bao gồm mọi lời giảng dạy của Do Thái giáo, toàn bộ Kinh thánh và sách Talmud.

* Hội đường: Hội đường không chỉ là nhà thờ phượng của Do Thái giáo mà còn là nơi tập trung sinh hoạt của cộng đồng - trường học, trung tâm tôn giáo, phòng họp và phòng xử án. Tuy thế, hội đường không thể thay thế hoặc mô phỏng chức năng cao cấp của Đền thờ Giê-ru-sa-lem. Nó không có tư tế và không cử hành lễ tế.

Các hội đường ban sơ có lẽ chỉ gồm một phòng đơn giản. Đó là nơi có mười người nam hoặc hơn của một cộng đoàn Do Thái tụ tập để dâng lời cầu nguyện và trao đổi những khái niệm về sách Torah và các cuốn còn lại của Kinh thánh, và các tài liệu giảng huấn khác như Mishnah, Midrash. Về sau, các cộng đoàn dựng lên một toà nhà đặc biệt, thường là toà nhà cao nhất cộng đồng. Theo thời gian, kiểu mẫu kiến trúc thay đổi dù mọi hội đường đều có chung một số đặc điểm. Dứt khoát, cửa sổ là tất nhiên vì sách Torah phải đọc ở chỗ có đủ ánh sáng. Mặt tiền có ba cửa lớn, tiếp cận một hàng hiên có vòm, hoặc tiền sảnh, nơi tín đồ chuẩn bị tư thế trước khi đi vào. Bên trong, đặt các băng ghế thành dãy theo ba mặt, đối diện với bục thuyết giảng, dành cho người đứng nói.

Trong một số trường hợp, toà nhà hội đường được định vị sao cho mặt của cộng đoàn nhìn về hướng của Hòm bia đựng sách Torah và hướng của Đền thờ Giê-ru-sa-lem. Có thể có dãy ghế dành cố định cho Hội đồng kỳ mục (trưởng lão). Nền nhà hầu hết bằng đá bằng phẳng nhưng các cộng đoàn giàu có thường gắn đá đa sắc để trang trí.

Trong mấy chục năm đầu thời Kitô giáo sơ khai, các tông đồ và môn đệ cũng thường rao giảng trong hội đường Do Thái giáo.

* Đêm Thứ bảy. Ở đây, có lẽ người kể có chủ ý vì ngày Sa-bát bắt đầu vào lúc mặt trời lặn chiều Thứ sáu, cũng là lúc người Do Thái tới hội đường để kinh nguyện, bắt đầu một ngày nghỉ việc, chay tịnh và sẽ kéo dài cho tới lúc mặt trời lặn ngày Thứ bảy.

* Lý. Leave. Dài khoảng 4 cây số.

* Thầy giảng. Rabbi. Còn có thể gọi là tôn sư, hoặc thầy cả. Để trở thành thầy giảng, một thanh niên phải theo học với một tôn sư, trong một khoảng thời gian không nhất định, cho tới khi được vị thầy ấy công nhận là người ấy có thể tự mình đưa quyết định chính xác về khía cạnh tôn giáo của một vấn đề. Lúc đó, vị thầy sẽ tuyên bố môn sinh ấy là một học giả được phong chức và là kẻ có thể tự xưng mình là một thầy giảng. Cho tới thế kỷ 13, thầy giảng không nhận lương bổng. Nhiệm vụ của thầy giảng trong Do Thái giáo chính thống bao gồm quyết định về mọi vấn đề liên quan tới lễ nhập đạo (cắt bì), điểm đạo lúc đủ 13 tuổi, hôn nhân, li dị và lề luật, v.v. Thầy giảng không phụ trách tế lễ, vì đó là công việc của giới tư tế.

Trong sách Phúc âm, có chỗ Đức Giê-su cũng được gọi là rabbi.

* Xa-tan. Quỉ vương hay quỉ sứ (Satan, Ashmodai, Asmodeus). Theo niềm tin của nhiều tôn giáo, nó là một tác nhân độc dữ và siêu nhiên, ảnh hưởng lên động thái của con người. Theo truyền thống Thiên Chúa giáo (gồm Do Thái giáo và Kitô giáo), Xa-tan là là một bộ mặt nguy hiểm cực độ, thủ lãnh của các thần linh độc dữ hoặc của các thiên thần sa đọa. Chúng vốn là phẩm (cơ binh) thứ nhất trong 10 cơ binh thiên thần, bị Thượng đế trừng phạt vì dám kiêu ngạo, thách đố quyền năng của Thượng đế. Vì thế, ngày nay, các cơ binh thiên thần còn lại được gọi là chin phẩm thiên thần.

Cũng trong Kinh thánh, Xa-tan có đầy đủ quyền năng chẳng kém Thượng đế, ngoại trừ việc làm con người sống lại, được hiểu như khả năng làm điều thiện. Trong văn học tôn giáo, Xa-tan xuất hiện với nhiều hóa trang khác nhau, mang lốt con người hay loài vật, và nhiều danh xưng khác nhau như Beelzebul, Belial, v.v. Cũng theo truyền thống Thiên Chúa giáo, người bị chứng quỉ ám là bị Xa-tan chiếm hữu. Tuy thế, vẫn có tín ngưỡng thờ phượng Xa-tan, gọi là Satanism, liên quan tới phép phù thủy, ma thuật của pháp sư, v.v. Tín ngưỡng này vẫn dai dẳng thịnh hành bất chấp sự chống đối trong suốt lịch sử của Thiên Chúa giáo.

* Văn bản của truyển này được ước lượng là có từ bản chép tay vào thế kỷ 13, được xuất bản lần đầu trong Révue des Etudes Juives.

* Trích từ “Kho tàng truyện dân gian Do Thái”, Nguyễn Ước sưu tầm và chú giải, sẽ xuất bản.

Tác giả: Nguyễn Ước